Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

'Để có vốn, doanh nhân phải biết bán mình'


Tầm nhìn người đứng đầu doanh nghiệp có tác động rất lớn tới quyết định cấp vốn của ngân hàng hay quỹ đầu tư. Do đó, lời khuyên dành cho các doanh nhân là phải biết biến mình thành món hàng tốt để "bán" được giá.
>Việt Nam cần 7 tỷ USD nếu thanh lọc nợ xấu kiểu Mỹ
>
'Mua bán nợ 100.000 tỷ vẫn chỉ là ý tưởng'

Sau 10 năm làm thuê, thành lập công ty năm 1998 với số vốn 200 triệu đồng và nay có 38 công ty thành viên, tổng trị giá lên đến 3.000 tỷ đồng là câu chuyện thành công của ông Mai Hữu Tín - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn đầu tư U&I, Chủ tịch Hội doanh nhân trẻ Việt Nam. Kinh nghiệm được ông Tín tiết lộ là: "Trong kinh doanh, ai đó chỉ đầu tư cho bạn khi họ thấy hợp. Không hợp thì không thể hùn –góp chung, chẳng thế mà ông cha ta từ xưa đã có từ 'hùn hợp'".
Chủ tịch Tập đoàn U&I phân tích, việc đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó chủ yếu dựa trên 3 lý do: sở thích, mua lại, phát triển rồi bán hoặc bị rủ rê. Tuy nhiên, dù với nguyên nhân nào, người rót vốn cũng cần nhìn thấy điểm chung với lãnh đạo của nơi sử dụng nguồn tiền đó. "Doanh nhân hãy là chính mình nhưng phải biết tiếp thị là một món hàng tốt để 'bán' có giá hay chính là thu hút được đầu tư" – ông Tín nói.
Ông Mai Hữu Tín - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn đầu tư U&I. Ảnh: ST
Câu chuyện trên được ông Tín chia sẻ cùng 100 CEO trong buổi giao lưu hôm qua tại Hà Nội với chủ đề “Phương thức vay và huy động vốn hiệu quả”.
Đồng quan điểm này, ông Nguyễn Hồng Trường, Phó chủ tịch phụ trách kinh doanh và công nghệ IDG Ventures Việt Nam cho rằng, thu hút đầu tư thành công hay không trước hết dựa vào người đứng đầu doanh nghiệp. Đó là tầm nhìn, mục tiêu, khả năng ảnh hưởng của vị lãnh đạo và đặc biệt là sự hiểu biết nhà đầu tư, kế sau mới là sản phẩm hay kế hoạch kinh doanh.
"Đôi khi chỉ là những cuộc nói chuyện 5 phút, bài test 30 giây, qua con người, chúng ta sẽ quyết định đầu tư hay không. Nếu doanh nhân đó chứng mình được tầm nhìn, khả năng và biết chắc họ làm cái gì thì bằng bất cứ bản kế hoạch nào, họ cũng đã tìm được con đường ngắn nhất", ông Trường nói.
Tuy nhiên, về kinh nghiệm hút vốn từ các quỹ đầu tư chiến lược, ông Nguyễn Hồng Trường cho biết, doanh nghiệp thường chỉ tìm đến khi khởi nghiệp hoặc mở rộng quy mô kinh doanh. Điều này cũng chỉ nên thực hiện sau cuộc huy động 3F – Family, Friends, Fools – gia đình, bạn bè và nhà đầu tư thiên thần. Bởi khi đã có sự vào cuộc của các quỹ đầu tư, doanh nghiệp ít nhiều bị "pha loãng" từ việc bán cổ phần, cổ phiếu.
Theo chuyên gia tài chính, ngân hàng – Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, điểm khó nhất của doanh nghiệp khi đi vay vốn hiện nay là tài sản thế chấp. Nhưng trường hợp không có, doanh nhân đổi lại bằng một bản kế hoạch, báo cáo, dự báo tình hình cụ thể trong 3-5 năm thì vấn đề cho vay sẽ được xem xét.
Bởi ngân hàng và người đi vay cần tìm được tiếng nói chung, nếu khả thi, ngân hàng có thể lấy chính sản phẩm hình thành từ vốn vay làm tài sản thế chấp. Theo đó, một bản dự báo chi tiết là cần thiết, tầm nhìn, khả năng của doanh nhân là mấu chốt trong việc hút đầu tư.
Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu đưa ra một thực tế nghịch lý hiện nay: ngân hàng có thừa vốn nhưng không cho doanh nghiệp vay. Thay vào đó, họ đi mua trái phiếu Chính phủ và cho nhau vay, dù lỗ 3-5% so với đầu tư vào các công ty kinh doanh. "Tại sao lại như vậy? Có vấn đề gì đang xảy ra ở đây?" – ông đặt câu hỏi.
Theo ông Hiếu, tình trạng nợ xấu đã khiến hầu hết ngân hàng "co càng" và không đơn vị nào muốn mạo hiểm nữa. Một nợ xấu phải đổi lại bằng 50 nợ mới, bởi thông thường, biên độ lợi nhuận của ngân hàng chỉ là 2%.
"Vậy thì doanh nghiệp hay chính là người đi vay phải chứng mình được với các ngân hàng khả năng thanh khoản, bảo đảm của mình. Hai bên hiểu và cùng chung ngôn ngữ mới khơi thông được nguồn tiền", ông Hiếu nói.
Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu cũng "mách nước" cách tiếp cận ngân hàng với các doanh nghiệp. Ngoài tài sản thế chấp đang có và hình thành từ nguồn vốn, đơn vị đi vay phải chuẩn bị báo cáo, dự báo tài chính, kế hoạch kinh doanh...
Thêm đó, doanh nghiệp đi vay cần nắm và giữ cho được tâm lý đàm phán. Đơn cử như thông thường, ngân hàng sẽ hỏi người đi vay "Anh đã tiếp cận ngân hàng nào trước chúng tôi?" và doanh nhân trả lời "Không, các ông là đầu tiên". Nhưng thực tế, đó là sai lầm.
"Đừng ngần ngại thể hiện sức mạnh và cho họ biết tôi đã làm việc với nhiều ngân hàng nhưng muốn xem ngân hàng của ông có lợi thế hơn họ hay không", chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu tư vấn. Ngoài ra, trong bất kể trường hợp nào, người đi vay cũng không được vượt quá "điểm tổn thương", tức là bằng mọi giá để vay được vốn, "nếu thấy khó chấp nhận, hãy sẵn sàng rời bàn đàm phán và luôn giữ vị thế chủ động", ông nói.
Một kinh nghiệm được chuyên gia này tiết lộ, dù "khỏe" đến mấy, doanh nghiệp cũng nên giữ quan hệ với ngân hàng. Tức là dù không cần cũng hãy vay một ít để "họ vui lòng" và được "cấp cứu" khi không may khó khăn. Bởi ngân hàng được xem là một sinh vật, chỉ đưa dù cho doanh nghiệp khi "nắng" chứ không đưa dù khi "trời mưa".
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, năm 2011, cả nước có 79.000 doanh nghiệp phá sản. Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, 4 tháng đầu năm, con số này là 17.000 doanh nghiệp. Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu cho rằng điều này có một phần nguyên nhân lớn do lãi suất cho vay từ các ngân hàng quá cao, thậm chí không ít công ty làm chỉ để trả lãi. Thông thường, với lãi suất 20%, doanh nghiệp phải có lợi nhuận 40% mới "sống" được.
Bản thân nhiều ngân hàng cũng đang chịu "gậy ông đập lưng ông" vì cuộc chạy đua huy động lãi suất, đẩy mức cho vay lên quá cao. Bởi chính việc đẩy doanh nghiệp vào khó khăn, không có khả năng thanh khoản đã tạo nên "cục máu đông" nợ xấu hiện nay.
Xuân Ngọc

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2012

Bài học từ My Space - Cẩn thận với sự thành công "bong bóng"


Một doanh nghiệp nếu không thể hiểu nổi "tại sao mình thành công ?" - Sớm hay muộn, công ty đó sẽ phải đối mặt với thảm hoạ.
Mới đây, cực chủ tịch của Facebook – Sean Parket cùng nhà đồng sáng lập hãng Airtime – Shawn Fanning đã có buổi chia sẻ cùng báo chí, theo đó cả 2 cùng chia sẻ quan điểm rằng một công ty thành công có thề là do nỗ lực phấn đấu những cũng có thể hoàn toàn nhờ may mắn.

Nếu một công ty “phất lên” nhờ những yếu tố thuận lơi ngẫu nhiên, công ty đó sẽ sớm trở thành “thảm hoạ.”

Fanning đã sử dụng hình ảnh của Facebook và MySpace để minh hoạ cho ý kiến trên.

Theo Fanning, My Space dường như không hiểu nổi tại sao họ lại thành công. “Cộng tác với họ trong một thời gian dài, cũng như chứng kiến những gì hoạt động tại đây, tôi hoàn toàn chắc chắn rằng những thành tựu của họ đạt được hoàn toàn do may mắn.”

 “Do không biết lý do tạo nên thành công của mình, My Space thực sự gặp vấn đề khó khăn khi cố gắng thay đổi mọi thứ. Họ chẳng hề có chiến lược tổng thế gì cả. Dường như My Space cứ mò mẫm và thực hiện mọi việc một cách hết sức bột phát, sau đó dường như họ “giương mắt” nhìn Facebook dần dần lớn mạnh và che phủ mình mà chẳng có bất cứ động thái nào cả. Đơn giản là họ chẳng hiểu gì về chính mình nữa là hiểu đối thủ"

“Doanh nghiệp bạn có thể ‘phất’ lên theo 2 đường: một là sự may mắn ngẫu nhiên thuần tuý, hai là nhờ việc xây dựng một mô hình kinh doanh thực sự, đi kèm với việc thử nghiệm rất nhiều trước khi tiến ra thị trường.” Vào cuối ngày làm việc, bạn cần phải cảm nhận được về một viễn cảnh khả thi của sản phẩm, thấu hiểu bản chất của thị trường và phải tự giải đáp được câu hỏi “Tại sao mọi thứ đang phát triển như thế này và tôi sẽ thực hiện bước gì tiếp ?”
Facebook, trong sự tương phản với My Space, luông kiểm tra các ứng dụng rất kỹ trước khi chính thức tung ra thị trường. Thậm chí trong một vài trường hợp, khoảng thời gian này còn được đánh giá là hơi lâu: Parker cho biết ứng dụng Facebook Feeds và Photos đã có thể được tung ra sớm hơn. Ông cũng cho biết Facebook luôn đánh giá rất cẩn thận mọi thứ và rút ra bài học từ những điều tưởng như nhỏ nhặt nhất.
Vậy làm sao để biết rằng bạn đang không phải thành công nhờ may mắn ?
Parker nói “Tôi nghĩ rằng một cách để minh chứng cho điều trên là hãy làm mọi việc một cách đồng bộ, có hệ thống và thể hiện tầm nhìn. Nhưng quan trọng nhất là bạn phải duy trì được mô hình làm việc trên trong một thời gian dài. Hãy nhớ bài học My Space.”
Thái Dương

Bán hàng tạp hóa, kiếm lời 2 triệu đồng/ngày là ít!


Trong khi các công ty phá sản hàng loạt vì thiếu vốn, không có đơn hàng… thì các cửa hàng tạp hóa, các siêu thị mini lại mọc lên như nấm ở Hà Nội.
Lý do đơn giản là vì mức lãi “khủng” trong khi không bao giờ sợ ế ẩm đã thu hút những người có “máu” kinh doanh.
Dọc đường Tân Mai, từ đối diện cổng trường Tiểu học cho đến khu vực chợ Tân Mai, chỉ với đoạn đường khoảng 500 mét đã có tới 8 siêu thị mini và không dưới chục cửa hàng nhỏ lẻ bán đồ tạp hóa. Ấy vậy mà cửa hàng nào cũng tấp nập khách ra vào, chủ cửa hàng nào cũng tươi cười niềm nở.
Trong vai một người muốn mở cửa hàng tạp hóa, tôi gặp bác Yến, người quen của gia đình, cũng là một trong những chủ cửa hàng dạng siêu thị mini bán chạy nhất khu này để hỏi thăm về mối hàng và xin tham khảo các mặt hàng cần lấy để bán.
Bác Yến cho biết, về mối hàng thì không cần phải lo, chỉ cần đưa số điện thoại, bác sẽ đưa lại cho các mối cung hàng và họ sẽ tìm đến tận nơi làm việc với mình. Thậm chí chẳng cần số điện thoại, khi biết mình mở cửa hàng tạp hóa, nhân viên tiếp thị của các hãng sẽ tự động “ầm ầm kéo đến”.
Cũng theo lời bác Yến, quan trọng là diện tích cửa hàng có bao nhiêu, còn bán hàng tiêu dùng thì đa dạng, từ đồ ăn nhanh, đồ uống, hóa mỹ phẩm, đồ dùng học tập, từ đồ trẻ con cho đến đồ người lớn…mỗi loại có đến vài, thậm chí vài chục nhãn hiệu để lựa chọn.
Theo kinh nghiệm của bác thì cứ sử dụng diện tích càng rộng càng tốt và lấy hàng nhiều loại, nhiều nhãn hiệu ngay từ đầu. "Bây giờ cửa hàng tạp hóa dạng siêu thị mini được người dân lựa chọn nhiều hơn, vì vừa tiện lợi, gần nhà, giá có khi lại còn rẻ hơn so với siêu thị lớn. Miễn là hàng của mình có đủ loại, từ cây kim, cái bánh, hộp sữa, từ gói dầu gội đầu, bao thuốc lá cho đến chai rượu xịn, thì sẽ không phải lo chuyện vắng khách", bác nói.

Có nhiều mặt hàng không tính đến lời lãi, mà chỉ cần "ăn" tiền trưng bày sản phẩm
Bán hàng cũng không nên tham lãi nhiều, mỗi món một chút, có món thậm chí gần như không có lời mà vẫn phải bán. Khi tôi thắc mắc, bán hàng mà lãi ít thì không ổn, vì còn tiền thuê mặt bằng, tiền thuế, tiền thuê người bán hàng, bác nói: “Không vấn đề gì cả. Ngoài tiền lãi mình ăn, còn có tiền trưng bày sản phẩm của nhà cung cấp nữa”.
Được biết, các sản phẩm trưng bày trong cửa hàng được nhà cung cấp trả một khoản tiền không nhỏ để có được “vị trí đẹp”, như một hình thức quảng cáo. Khoản tiền này với một số sản phẩm chẳng hạn như bim bim, giấy vệ sinh, bỉm, dầu gội đầu, kẹo mút, kẹo cao su, bút bi…thì còn cao hơn nhiều lần so với tiền lãi.
Cũng theo bác Yến, để mở một cửa hàng tạp hóa chừng 25m2 thì có thể chấp nhận giá thuê mặt bằng lên tới 20 triệu đồng, thuê 2 người bán phụ với mức lương 3 – 5 triệu đồng/tháng!(?)
Theo tính toán của người viết, chi phí thuê cửa hàng và nhân công đã là 30 triệu đồng, còn chưa kể đến tiền điện, tiền thuế…thì doanh thu mỗi tháng tối thiểu cũng phải 50 triệu đồng. Con số này tuy nhiên theo bác Yến là “quá nhỏ”. Bác không nói cụ thể doanh thu của cửa hàng bác là bao nhiêu, nhưng tiết lộ với vốn đầu tư ban đầu khoảng 350 triệu đồng, hiện mức lãi mỗi ngày của cửa hàng không dưới 2 triệu đồng!


Các cửa hàng bán đồ tạp hóa như thế này đang mọc lên như nấm ở Hà Nội

Bác Yến còn bật mí, ngoài tiền lãi, tiền trưng bày sản phẩm, người bán hàng còn được “ăn” nhờ phần khác, mà phần này mới là quan trọng, đó là dám và biết “ôm” hàng dự trữ đề phòng giá lên! Các mặt hàng dễ dự trữ và không bao giờ lo giá giảm mà lại có khả năng sinh lời cao nhất là sữa, bỉm, dầu ăn, các loại rượu... 
Khi hỏi làm sao để biết được giá lên mà tích trữ hàng, bác cho biết, thường các đầu mối sẽ báo cho mình trước ít nhất là 1 tuần về việc giá lên để có "phương án"  trữ kịp thời. Thêm nữa, ưu điểm của kinh doanh hàng tạp hóa là không bao giờ lo chuyện hàng tồn hay quá date, vì có vấn đề gì sẽ trả lại được cho các nhà cung cấp.
Ngoài ra, khi có doanh thu cao, các sản phẩm được tiêu thụ nhiều, nhà cung cấp còn có chính sách ưu đãi riêng cho đại lý, chẳng hạn như tăng chiết khấu hoặc tặng quà...
Bác Yến cho biết thêm, đã quyết định mở cửa hàng kinh doanh tạp hóa quy mô tương đối thì nên lấy hàng cả ngoại nhập, hàng xách tay để bán. "Rượu, nước hoa, mỹ phẩm, sữa xách tay... tương đối kén khách, nhưng lãi sẽ lớn. Quan trọng là lấy hàng chuẩn thì sẽ giữ được khách lâu dài".

Cũng theo bà chủ cửa hàng trên phố Tân Mai này, quan trọng nhất là số vốn bỏ ra ban đầu, còn về sau, tiền lấy hàng nhiều khi không cần phải quan tâm, mà khi nào bán hết đợt hàng mới thanh toán cho nhà cung cấp cũng được.

Tuy nhiên, kinh doanh cửa hàng tạp hóa cũng có những rủi ro nhất định, nhất là khâu quản lý. Vậy nên theo những người có kinh nghiệm, việc quản lý cửa hàng phải chặt chẽ, ngoài sử dụng phần mềm, phải có người thu ngân tin cậy, có người thường xuyên theo dõi hoạt động của cửa hàng, có người bán hàng nhanh nhẹn và trung thực. Đối với các đầu mối cung cấp hàng cũng phải cẩn thận, kiểm tra kỹ xuất xứ hàng hóa để tránh bị hàng giả, hàng kém chất lượng...


Phương Thảo

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Hiện tượng Facebook


Trong nền kinh tế thị trường, mọi chuyện đều có thể xảy ra. Nếu Facebook có thể đạt thị giá 100 tỷ đô la trong 8 năm (từ 1 ngàn đô la khởi nghiệp) thì Facebook cũng có thể mất 32 tỷ đô la về thị giá chỉ trong 20 ngày. Các tay chơi tự do kiện nhau về mất mát, nhưng không ai chạy đến chính phủ xin cứu trợ.
Cả tháng nay, thế giới tài chính bàn tán không ngớt về IPO của Facebook với một định giá kỷ lục là 100 tỷ đô la (tương đương GDP của Việt Nam và lớn hơn GDP của 124 quốc gia khác) cho một công ty thành lập trong một căn phòng nội trú 8 năm về trước với 1 ngàn đô la giữa 2 sinh viên. Công ty Facebook sẽ thu về 16 tỷ đô la tiền mặt từ IPO; có doanh thu 6.3 tỷ đô và lợi nhuận trước thuế khoảng 2.2 tỷ đô;  nhưng tài sản lớn nhất là 900 triệu thành viên trên khắp thế giới.
Bỏ qua những lời ngợi khen hay chê bai, thán phục hay dửng dưng về sự trổi dậy của một đế chế IT mới, tôi tìm ra vài điều thú vị từ hiện tượng Facebook này, nhất là khi nhìn từ một xã hội gần như tương phản.
1. Mô hình kinh doanh khác biệt
Khác với các công ty IT khác như Google phải thu nhặt dữ liệu qua trăm ngàn máy chủ, hay Microsoft phải trang bị Windows và các phần mềm lên các máy tính, các thành viên của Facebook đã tự nguyện cho lên trang mạng xã hội này các thông tin dữ liệu cá nhân của mình để Facebook hưởng lợi bằng cách khai thác thương mại quảng cáo với những doanh nghiệp khách hàng. Có thể nói Facebook chỉ là một trang mạng, không hơn không kém, và dịch vụ duy nhất là để bạn bè gia đình kết nối và chia sẻ. Một ý tưởng trị giá 100 tỷ đô la? Và một mô hình kinh doanh hoàn toàn do khách hàng chủ động, họ tiếp thị và bán cho nhau dịch vụ kết nối này mà Facebook không phải trả đồng nào.
2. Facebook chỉ có thể xảy ra ở Mỹ
Dưới chế độ tư bản ích kỷ, mọi người tự do theo đuổi lợi nhuận và ý thích của mình, không cần ai cho phép. Nếu bạn ngu xuẩn và mất tiền của bạn hay của khách hàng ký gửi, thì đó là một lựa chọn dựa trên căn bản tự nguyện. Thêm vào đó, văn hóa của nền kinh tế Mỹ coi chuyện thất bại là một sự kiện bình thường, không gì để bài bác.
Nếu Zuckerberg, hay Larry Page hay Steve Jobs trước đây, sống ở một xã hội như Trung Quốc thì thế giới chắc chắn không có Facebook hay Google hay Apple. Các sinh viên trẻ này không phải là các hoàng tử đỏ hay có đủ quan hệ chánh trị để sáng tạo một công ty với mô hình kinh doanh chưa hề hiện diện. Các hoàng tử công chúa thực thì bận rộn khoe các "đồ chơi" thể hiện đẳng cấp. Các đầu óc quan chức thì chắc chắn không thể hiểu nổi một quan niệm sống và chia sẻ quá tự do và cách mạng kiểu này của thế hệ mới. Và chắc chắn, sáng tạo không thể thực hiện bằng nghị quyết hay khẩu hiệu.
3. Sự khép kín của các tỷ phú Facebook
Sau IPO, phần lớn các nhân viên trẻ vây quanh Zuckerberg đã trở thành triệu phú đô nhiều lần, kể cả anh bạn thiết kế logo cho Facebook. Các phóng viên truyền thông đã để ý đến cuộc sống khép kín bình dị của những nhà triệu phú mới này. Sheryl Sandberg, COO, xây căn nhà nằm dưới đất trong một khu rừng để tránh những tương phản khá lớn với môi trường. Zuckerberg mua một biệt thự 6 triệu đô, sau khi thị trường định giá tài sản cá nhân anh là 32 tỷ đô. (Một đại gia cỡ nhỏ Việt Nam vừa mời tôi ăn tân gia ở khu Thảo Điền và khoe là đã chi 5 triệu đô cho căn biệt thự ở đây). Zuckerberg cũng vừa tổ chức đám cưới với cô bạn gái bác sĩ, mời 100 khách, chi ra khoảng 27 ngàn đô. (Chỉ bằng một phần hai mươi tiền của đại gia Hà Tĩnh chi ra cho đám cưới con trai, mà Zuck lại quên mời Mr. Đàm và Quang Lê).
4. Sáng tạo cần hủy diệt để tiến bộ
Kiếm tiền theo định chế thị trường vô cùng vất vả. Vừa mới đăng quang xong, Facebook đã phải đối diện với bao cạnh tranh, cũng như các lời tiên đoán về số tuổi của mình. Đe dọa lớn không chỉ là nhà khổng lồ Google +, mà là cả ngàn công ty đang nằm trong các phòng nội trú hay các nhà để xe khắp thế giới. Nhược điểm của Facebook về ứng dụng cho các điện thoại thông minh đã khiến một nhà phân tích IT cho là Facebook sẽ biến mất sau 10 năm. Các nhà giao dịch chứng khoán thích so sánh Facebook với Yahoo. Họ cho rằng Yahoo sau khi ra đời khoảng 7 năm cũng đạt thị giá hơn 100 tỷ đô và chỉ 6 năm sau, còn 30 tỷ đô.
5. Luôn luôn có tay đua nhanh hơn
Thực ra, mạng xã hội đầu tiên là MySpace, đã chào đời vào 2003, 2 năm trước Facebook. Nhưng MySpace vướng hai vấn đề. Một là ban quản trị chậm chạp hình thức kiểu quan lại vì nằm dưới quỹ đạo của News Corp (thích kiểm duyệt nội dung và ngăn cấm các đề tài gây khó chịu cho các chính phủ thân hữu như Trung Quốc) và hai là đội ngũ IT đã không cải tiến sản phẩm thường trực, gây vướng mắc kỹ thuật liên tục cho khách hàng. Khi gặp đối thủ nhanh hơn, sáng tạo hơn, nhỏ hơn...MySpace đã không cạnh tranh hữu hiệu và trở thành một viên gạch lót đường cho Facebook và các mạng xã hội khác như YouTube.
6. Càng lên cao càng té nặng
Các ngân hàng đầu tư như Morgan Stanley hay Goldman Sachs thường kiếm tiền vô khối cho mình và khách hàng thân thiết của mình trong dịch vụ IPO. Đây là một hình thức ban phát ân huệ của các ngân hàng vì giá IPO thường được hạ thấp để sau khi IPO, giá cổ phiếu sẽ tăng vọt tạo ấn tượng cho công ty và thị trường.
Tuy nhiên, IPO của Facebook lại gặp nhiều vấn đề ngoài dự đoán. Vì lòng tham, Morgan Stanley đã ra giá cao lợi dụng thời điểm tốt của thị trường và những chiêu PR quá tốt cho Facebook khắp thế giới. Được rao truyền là sắp vượt mặt các đàn anh như Google, Apple..., giá Facebook tại IPO ngày 18 tháng 5 là $ 38 USD. Chỉ sau 20 ngày, hôm nay (7/6/2012), Facebook chỉ còn thị giá $ 26. Các nhà đầu tư lỗ 31%. Mỗi tuần, Morgan Stanley, Nasdaq, Facebook, Zuckerberg...và bất cứ ai liên quan đến vụ IPO của Facebook đều nhận hơn ngàn đơn kiện từ khắp nơi.
Từ góc nhìn của tôi, Facebook là một biểu hiện rất trung thực của nền kinh tế thị trường. Sự thành công của Facebook là một mô hình kinh doanh sáng tạo, nắm bắt nhu cầu thị trường nhanh chóng và luôn cải tiến để thỏa mãn khách hàng, xây dựng một thương hiệu đẳng cấp. Nhưng nền kinh tế thị trường cũng đẩy ra những cạnh tranh khốc liệt liên tục, từ các địch thủ cũ như Google + đến những doanh nhân mới chưa ai biết đến. Và trong nền kinh tế thị trường, mọi chuyện đều có thể xẩy ra. Nếu Facebook có thể đạt thị giá 100 tỷ đô la trong 8 năm (từ 1 ngàn đô la khởi nghiệp) thì Facebook cũng có thể mất 32 tỷ đô la về thị giá chỉ trong 20 ngày. Các tay chơi tự do kiện nhau về mất mát, nhưng không ai chạy đến chính phủ xin cứu trợ.
Một điều chắc chắn: sẽ còn nhiều hiện tượng Facebook trong tương lai ở những xã hội mở. Bài học Facebook có thễ dậy các nhà lãnh đạo kinh tế thế giới về một môi trường cần có để tạo dựng những công ty đột phá. Còn nếu cứ khư khư ôm giữ những định luật thời đồ đá, người dân của họ sẽ biến thành những con thạch sùng chỉ biết thở dài trong đêm tối.
T/S Alan Phan

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012

“Các em chẳng có gì đặc biệt”


Thứ Ba, 12/06/2012, 07:52 (GMT+7)
Bài phát biểu tại lễ tốt nghiệp trung học gây chấn động nước Mỹ:
“Các em chẳng có gì đặc biệt”
TT - Phát biểu trong lễ tốt nghiệp của các học sinh lớp 12 Trường trung học Wellesley High ở bang Massachusetts (Mỹ) tuần trước, giáo viên tiếng Anh David McCollough Jr đã gây sốc khi nói thẳng: “Các em chẳng có gì đặc biệt”.
Giáo viên David McCollough Jr khi đọc bài diễn văn gây sốc - Ảnh: The Swellesley Report

Thế nhưng, bài phát biểu của David McCollough lại được nhiều tờ báo và hãng tin Mỹ đăng tải, và thu hút được hàng chục ngàn comment (bình luận) trên mạng Internet, phần lớn đều ủng hộ thông điệp của ông McCollough.
Trong bài diễn văn tại lễ tốt nghiệp năm 2012, thay vì lặp lại những câu sáo mòn như “Chúng tôi rất tự hào về các em”, “Các em rất tài năng”, “Thế giới là của các em”..., ông McCollough đưa ra một thông điệp mà giới truyền thông Mỹ mô tả là “Xin chào mừng các em đến với cuộc đời thực”.
Wellesley High là trường công nổi tiếng ở thị trấn giàu có Wellesley, có truyền thống lâu đời và từng sản sinh nhiều nhân tài cho nước Mỹ. David McCollough Jr là con trai của nhà sử học - nhà văn David McCollough, người từng đoạt giải thưởng Pulitzer.
Trước các học sinh của mình đang xúng xính trong bộ đồng phục tốt nghiệp giống nhau, đang háo hức cầm trên tay tấm bằng, McCollough dõng dạc nói rằng “Các em chẳng có gì là đặc biệt”, “chẳng có gì là phi thường”! Một gáo nước lạnh như được giội xuống mọi thành tích vẻ vang của trường!
Được chăm bẵm quá mức
Trước bao ánh mắt mở to sửng sốt, McCollough điềm nhiên nói tiếp: “Các em đã được hầu hạ tận miệng, nâng niu mỗi ngày, được nuông chiều, được bảo bọc cẩn thận. Vâng, người lớn đã ôm hôn các em, cho các em ăn, lau miệng... cho các em. Họ dạy dỗ, hướng dẫn, lắng nghe, động viên và an ủi các em. Các em được nâng niu, phỉnh phờ, dỗ ngon dỗ ngọt, được nghe toàn những lời nài nỉ.
Video ông David McCullough phát biểu - Nguồn: YouTube

Các em được người lớn ngợi khen đến tận trời xanh, được gọi là cục cưng. Đúng vậy đó. Chúng tôi đã ở bên cạnh các em trong các trò chơi, vở kịch, các cuộc biểu diễn âm nhạc, hội chợ khoa học. Những nụ cười tỏa sáng khi các em bước vào phòng, đáp lại mỗi tin nhắn trên Twitter của các em là những tiếng hô hào hứng. Và giờ các em đã chinh phục được trường trung học. Nhưng đừng lầm tưởng rằng các em là đặc biệt. Không có chuyện đó đâu nhé!”.
Đến đây, McCollough dẫn các học sinh vào một hiện thực đang chờ đợi mình. “Mỗi năm có ít nhất 3,2 triệu học sinh tốt nghiệp từ hơn 37.000 trường trung học trên toàn quốc. Đó là 37.000 học sinh tiêu biểu của các trường, 37.000 chủ tịch hội học tập, 92.000 giọng ca nổi bật, 340.000 vận động viên... Nhưng tại sao lại tự giới hạn chúng ta ở trường trung học thôi? Hãy thử nghĩ xem. Nếu cả triệu người mới có một người như các em thì trên thế giới 6,8 tỉ dân này sẽ có tới gần 7.000 người như các em. Hãy nhìn toàn cảnh. Hành tinh của chúng ta không phải là trung tâm Hệ mặt trời, Hệ mặt trời không phải là trung tâm Ngân hà, Ngân hà cũng chẳng phải là trung tâm vũ trụ. Các nhà thiên văn đã khẳng định vũ trụ không có trung tâm đâu, do đó các em không thể là “cái rốn” của vũ trụ. Ngay cả tỉ phú Mỹ nổi tiếng Donald Trump cũng chẳng là “cái đinh” gì”.
McCollough dẫn dắt tiếp: “Người Mỹ chúng ta giờ đây yêu các danh hiệu hơn là những thành công thật sự. Chúng ta coi danh hiệu là mục tiêu và sẵn sàng thỏa hiệp, tự hạ thấp các chuẩn mực, hoặc phớt lờ thực tế khi cho rằng đó là cách nhanh nhất hoặc duy nhất để có được những thứ có thể đem ra khoe mẽ, để có một vị trí tốt hơn trong xã hội... Hậu quả là chúng ta đang coi rẻ các trải nghiệm đáng giá, thế nên việc xây dựng một cơ sở y tế ở Guatemala trở thành chìa khóa để chạy xin vào học tại Bowdoin (học viện nghệ thuật nổi tiếng ở Mỹ) hơn là việc này vì cuộc sống của người dân Guatemala”.
Hạnh phúc không tự tìm đến
McCollough nhấn mạnh mục tiêu thật sự của giáo dục không phải đem lại lợi thế vật chất mà là sự hiểu biết, yếu tố quan trọng của hạnh phúc. “Trước khi các em tỏa đi khắp nơi, tôi kêu gọi các em hãy làm những gì mình yêu thích và tin tưởng. Hãy kháng cự lại sự thỏa mãn nhất thời, vẻ lóng lánh bề ngoài của vật chất, sự tê liệt của lòng tự mãn. Hãy xứng đáng với những lợi thế mà mình có”.
Sau khi khuyên các học sinh hãy tiếp tục đọc sách thường xuyên, phát triển ý thức về đạo đức, khẳng định cá tính, dám ước mơ, làm việc chăm chỉ và tư duy độc lập, yêu những người mình yêu hết mình, McCollough nhắc nhở: “Hãy làm như vậy một cách nhanh chóng, bởi mỗi giây phút đều quý giá. Cuộc sống hạnh phúc, có ý nghĩa là một thành tựu đòi hỏi nỗ lực, chứ không phải là thứ từ trên trời rơi xuống vì các em là người tốt hay vì cha mẹ đưa đến tận tay các em.
Các em hãy nhớ rằng những người tạo dựng nên nước Mỹ đã nỗ lực đảm bảo quyền được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Mưu cầu là một động từ, và tôi nghĩ các em sẽ không có nhiều thời gian để nằm ườn một chỗ xem mấy trò nhảm nhí trên YouTube. Đừng mong chờ cảm hứng và niềm đam mê sẽ tự tìm đến với các em. Hãy đứng dậy, bước ra bên ngoài, tự mình khám phá, tìm kiếm cảm hứng cùng niềm đam mê và hãy giữ chắc nó bằng cả hai bàn tay”.
Kết thúc phát biểu của mình, ông McCollough nhắn nhủ các học sinh hãy tự chủ, độc lập, sáng tạo không vì sự thỏa mãn do hành động đó mang lại, mà vì những điều tốt đẹp nó đem đến cho người khác. “Và khi đó, các em sẽ phát hiện sự thật vĩ đại và lạ lùng của cuộc sống. Đó là lòng vị tha, sống vì người khác, và đó là điều tuyệt vời nhất các em có thể làm được cho bản thân. Những niềm vui ngọt ngào nhất trong cuộc sống chỉ đến khi các em nhận ra rằng mình không có gì là đặc biệt”.
Sự quan tâm thái quá của người lớn khiến cái tôi của bọn trẻ phình to. Do đó, tôi nghĩ chúng cần một cách suy nghĩ mới. Đưa chúng vào đời với cái tôi quá lớn chẳng khác nào làm hại chúng
McCollough khẳng định. Trả lời phỏng vấn Fox News, McCollough giải thích ông muốn các học sinh hiểu rằng chúng phải nỗ lực nếu muốn thành công trong cuộc đời.

SƠN HÀ (Theo The Swellesley Report)

Đừng ăn cái bánh do may mắn mang lại

Tất cả các bạn đã được cho cái bánh thừa. Tất cả các bạn sẽ còn gặp nhiều cái bánh thừa nữa.... Nhưng bạn sẽ hạnh phúc hơn, và thế giới sẽ tốt đẹp hơn, nếu ít nhất bạn làm ra vẻ là bạn không xứng đáng.
LTS: Tuần Việt Nam đang đăng tải hàng loạt bài viết theo chủ đề giáo dục. Mới đây, chúng tôi nhận được bản dịch của bạn Trương Huân, bài diễn văn nhân lễ tốt nghiệp của sinh viên Đại học Princeton tháng 6/2012, của cây bút Michael Lewis.
Tuần Việt Nam xin đăng dưới đây để quý bạn đọc cùng chia sẻ, suy ngẫm về quan niệm giáo dục và các thang giá trị của tuổi trẻ nước Mỹ.
Ngày 3 Tháng Sáu, 2012
Xin cảm ơn. Cảm ơn hiệu trưởng Tilghman. Cảm ơn các thành viên hội đồng tín nhiệm và các thân hữu của trường. Cảm ơn các phụ huynh khóa 2012.
Trên hết, xin cảm ơn các bạn sinh viên Princeton khóa 2012. Xin các bạn tự thưởng cho mình một tràng pháo tay.
Cú hích đầu tiên...
Ba mươi năm trước tôi ngồi chỗ các bạn ngồi. Tôi chắc hẳn đã nghe một người già hơn kể chuyện đời mình. Nhưng tôi chẳng nhớ từ nào cả. Tôi cũng chẳng nhớ ai đã nói. Cái mà tôi nhớ, một cách sống động nhất, là việc tôi tốt nghiệp.
Tôi đã được dạy là tôi phải cảm thấy hứng thú, có phần cảm giác nhẹ nhõm, và có thể là toàn thể các bạn cũng được dạy như thế. Tôi chẳng cảm thấy gì trong số đó. ...Tôi đã đến và hiến cho nơi đây bốn năm đẹp nhất cuộc đời và đây là cách mà nơi đây nói lời cảm ơn với tôi. Bằng cách... đá tôi ra.
Lúc đó tôi chỉ chắc có mỗi một việc: Tôi chẳng thể có giá trị gì cho thế giới bên ngoài hết. Điều trước tiên cần nói, tôi học lịch sử mỹ thuật. Ngay cả thời đó thì theo học ngành này đã được coi là điên.
Tôi gần như chắc chắn là được chuẩn bị ít hơn cho thị trường so với hầu hết các bạn. Thế mà thế nào tôi lại trở nên giàu có và nổi tiếng. Thật ra, chỉ gần như là thế. Tôi sẽ giải thích ngắn gọn cho các bạn, điều đó đã xảy ra như thế nào.
Tôi muốn các bạn nhận ra con đường sự nghiệp có thể lắt léo đến mức nào, trước khi các bạn rời khỏi ghế nhà trường và đi trên con đường này.
Tôi tốt nghiệp từ Princeton mà chưa bao giờ xuất bản được bất cứ một con chữ nào, bất cứ ở đâu. Tôi không viết cho Prince**, hay cho bất cứ đơn vị nào.
Nhưng ở Princeton, học lịch sử mỹ thuật, tôi cảm nhận được cú hích đầu tiên từ niềm đam mê văn học của mình. Giáo sư hướng dẫn của tôi là một người rất có tài năng, ông là một nhà khảo cổ học, tên là William Childs.
Đề tài khoá luận tốt nghiệp của tôi là đề xuất một lời giải cho việc tại sao nhà điêu khắc người Ý Donatello sử dụng nền điêu khắc Hy Lạp và Roman- hoàn toàn không liên quan đến ý tưởng chính, nhưng tôi luôn muốn nói cho mọi người biết.
Không ai rõ là GS Childs nghĩ gì, nhưng ông đã làm tôi hứng thú với đề tài này. Hơn cả hứng thú, tôi bị ám ảnh. Khi tôi nộp bài thì tôi rõ điều tôi muốn làm cả đời tôi: Viết khóa luận tốt nghiệp. Hoặc, nói cách khác: Viết sách.
Rồi tôi bảo vệ đề tài tốt nghiệp. Tôi lắng nghe và chờ GS Childs lên tiếng rằng khóa luận của tôi hay đến mức nào. Ông chẳng nói gì. Và thế là sau 45 phút tôi mới hỏi, "GS nghĩ gì về bài viết của em?"
"Như thế này" ông nói. "Đừng bao giờ cố lập nghiệp bằng nghề viết."
Và tôi không cố thử, không thật sự như vậy. Tôi đã chọn việc mà tất cả mọi người không biết phải làm gì sau khi ra trường chọn làm: Học tiếp trường cao học.
Tôi viết sách ban đêm, mà không có hiệu quả lắm, lý do chính vì tôi không biết tôi cần phải viết về cái gì. Một hôm tôi được mời đến dự một bữa tối, tôi ngồi ngay cạnh bà vợ của một ông lớn ở một ngân hàng đầu tư ở Wall Street, gọi là Salomon Brothers. Bà ta nói với chồng mình cho tôi một chân làm việc.
Tôi chẳng biết tí gì về Salomon Brothers. Nhưng Salomon Brothers may mắn là nơi Wall Street được cải tổ -- thành nơi chúng ta đều biết đến và yêu mến.
Ảnh minh họa
Khi tôi đến đó, tôi được bổ nhiệm, gần như là ngẫu nhiên, vào một vị trí có thể quan sát được sự phát triển kinh hoàng: Họ biến tôi thành chuyên gia tại chỗ về chứng khoán phái sinh. Một năm rưỡi sau Salomon Brothers gửi cho tôi tấm séc trị giá một trăm ngàn đô la để tôi tham vấn về chứng khoán phái sinh cho những nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Bây giờ thì tôi có cái để mà viết rồi: Salomon Brothers. Wall Street đã đảo điên đến mức nó trả một khoản tài sản nho nhỏ cho các sinh viên Princeton mới ra trường không biết tí tẹo nào về tài chính để làm ra vẻ là chuyên gia về tiền bạc. Tôi nhảy tiếp tới đề tài tốt nghiệp tiếp theo của mình.
Tôi gọi điện cho cha tôi. Tôi nói tôi sẽ bỏ việc mà lúc đó người ta hứa trả tôi hàng triệu đô la để viết một cuốn sách với số tiền ứng trước 40 ngàn đô. Đầu dây bên kia ngừng lại không nói gì một thời gian khá lâu. "Con nghĩ lại cho kỹ về việc đó nhé," cha tôi nói.
"Tại sao?"
"Ở lại Salomon Brothers 10 năm, dành dụm tiền nong, sau đó thì hẵng viết sách," ông nói.
Tôi không cần nghĩ lại nữa. Tôi biết niềm đam mê từ trí tuệ cảm giác như thế nào- vì tôi đã biết nó như thế nào ở đây, tại Princeton- và tôi muốn tìm lại cảm giác đó. Lúc đó tôi 26 tuổi. Nếu tôi mà đợi đến năm 36, tôi sẽ không bao giờ muốn làm việc này. Tôi hẳn sẽ quên cảm giác đó.
Cuốn sách tôi viết mang tên "Liar's Poker" ("Poker của kẻ nói láo"). Cuốn sách bán ra được một triệu bản. Tôi lúc đó 28 tuổi. Tôi có sự nghiệp, chút danh vọng, một khoản tài sản nho nhỏ và một câu chuyện về cuộc sống mới.
Tự dưng mọi người nói với tôi rằng tôi sinh ra là để viết sách. Việc này thật vô cùng đột ngột. Ngay cả khi tôi có thể thấy một câu chuyện khác, chân thực hơn, mà may mắn là phông nền chủ đạo.
Cơ hội để được ngồi cạnh phu nhân Salomon Brothers đó là bao nhiêu? Cơ hội để có việc làm ở một công ty Wall Street số một để viết truyện ở tuổi đó là bao nhiêu? Cơ hội để có được vị trí với tầm nhìn tốt nhất với ngành tài chính như thế là bao nhiêu?
Cơ hội để có được cha mẹ, người không từ bỏ con mà chỉ thở dài nói "nếu phải làm thì làm đi" là bao nhiêu? Cơ hội có được cái cảm giác thôi thúc đã nhen nhóm trong tôi từ một GS lịch sử mỹ thuật ở Princeton là bao nhiêu? Và trước tiên, cơ hội được nhận vào Princeton học là bao nhiêu?
"Bóng tiền" và sự định thang giá trị
Trường hợp của tôi minh họa cho việc làm sao người ta luôn lý giải thành công. Mọi người- đặc biệt là những người thành công- không muốn nghe sự thành công được giải thích bằng sự may mắn.
Khi họ già, họ thành công, người ta cảm thấy thành công là lẽ tất nhiên. Họ không muốn thừa nhận vai trò của những biến cố bất ngờ trong đời. Có một lý do cho việc này: Thế giới cũng không muốn thừa nhận sự may mắn.
Tôi viết một cuốn sách về vấn đề này, tựa đề là "Moneyball" ("Bóng tiền"). Nội dung cuốn sách có vẻ như nói về bóng chày nhưng thực chất không phải. Trong thế giới bóng chày chuyên nghiệp, có các câu lạc bộ giàu và các câu lạc bộ nghèo, và họ chi những khoản tiền rất khác nhau cho các cầu thủ của mình.
Khi tôi viết cuốn sách này, đội bóng chày chuyên nghiệp giàu nhất, New York Yankees, chi khoảng 120 triệu đô la cho 25 cầu thủ của mình. Đội nghèo nhất, Oakland A, chi 30 triệu. Nhưng kỳ lạ thay đội Oakland cũng có số trận thắng bằng đội Yankees- và hơn tất cả những đội giàu hơn còn lại.
Việc này đáng ra là không thể. Trên lý thuyết, các đội giàu đã mua các cầu thủ tốt nhất và thắng ở tất cả các trận. Nhưng đội Oakland đã phát hiện ra một điều: Các câu lạc bộ giàu có không thật sự hiểu những cầu thủ tốt nhất là ai. Các cầu thủ bị định giá sai.
Và lý do lớn duy nhất mà họ bị định giá sai là những nhà chuyên môn không chú ý đúng mức tới vai trò của sự may mắn tới sự thành công trong môn bóng chày.
Các cầu thủ được tính công trạng cho những việc họ làm mà phụ thuộc vào phong độ của những người khác: Những cầu thủ giao bóng được thưởng vì thắng trận, các cầu thủ đập bóng được thưởng vì chạy tới căn cứ trước các cầu thủ chạy...
Gác chuyện bóng chày, chuyện thể thao lại. Ở đây bạn có các nhân viên công sở, trả hàng trăm triệu đô la một năm. Họ làm đúng cái việc mà những người cùng nghề với họ đã làm hàng đời.
Trước hàng triệu người, những người đánh giá từng cử động của họ. Họ có thống kê với từng việc họ làm. Vậy mà họ vẫn bị định giá sai- vì thế giới bên ngoài không nhìn thấy sự may mắn của họ.
Điều này đã xảy ra hàng thế kỷ. Ngay trước mắt chúng ta. Và không ai để ý - cho đến khi nó giúp một câu lạc bộ nghèo nàn nhiều đến mức mà mọi người không thể không để ý. Và anh phải hỏi: nếu một cầu thủ chuyên nghiệp được trả hàng triệu đô la mà còn có thể bị định giá sai, thì ai tránh được việc này?
Nếu sự danh giá một cách tuyệt đối của thể thao chúng ta vẫn tin mà còn không thể giúp ta phân biệt được giữa vận may và tài năng, thì còn cái gì có thể làm được việc này?
Câu chuyện "Moneyball" mang các ứng dụng thực tế. Nếu bạn sử dụng số liệu tốt hơn, bạn có thể tìm được những giá trị tốt hơn; luôn tồn tại điểm yếu của thị trường có thể khai thác, vân vân.
Nhưng nó mang một thông điệp rộng hơn và ít thực tiễn hơn: Đừng có bị đánh lừa bởi thành quả của cuộc sống. Thành quả của cuộc sống, tuy là không hoàn toàn ngẫu nhiên, một phần quyết định lớn là do may mắn.
Trên hết, nhận ra là nếu bạn có thành công, thì bạn có cả may mắn nữa- và với may mắn bạn có trách nhiệm. Bạn nợ một khoản, và khoản nợ đó không chỉ của những đấng thần linh mà bạn thời phụng. Bạn nợ sự đen đủi.
Bây giờ tôi sống ở Berkeley, California. Vài năm trước, chỉ cách nhà tôi vài bước, hai nhà nghiên cứu ở phân viện nghiên cứu Tâm lý Cal (California) đã dàn dựng một thí nghiệm. Họ bắt đầu bằng cách tập hợp các sinh viên, làm chuột bạch.
Khi họ già, họ thành công, người ta cảm thấy thành công là lẽ tất nhiên. Họ không muốn thừa nhận vai trò của những biến cố bất ngờ trong đời. Có một lý do cho việc này: Thế giới cũng không muốn thừa nhận sự may mắn.
Sau đó họ chia sinh viên ra làm các nhóm, phân loại theo giới tính. Ba nam, hoặc ba nữ, mỗi nhóm. Sau đó họ cho các nhóm này vào trong một căn phòng, và ngẫu nhiên chọn một trong ba người làm nhóm trưởng.
Sau đó họ giao cho các nhóm này một số vấn đề về đạo đức nan giải: Ví dụ như phải làm gì với gian lận trong học đường, hoặc làm sao chỉnh đốn việc uống rượu trong ký túc xá.
Sau đúng 30 phút họp nhóm các nhà nghiên cứu dừng các nhóm lại. Các nhóm sinh viên được cho vào một phòng có một cái đĩa bánh. Bốn cái bánh. Các nhóm có ba người, nhưng có bốn cái bánh. Mỗi người trong nhóm dĩ nhiên là có một cái bánh, nhưng còn thừa một cái bánh thứ tư ở trên đĩa.
Như thế thì thật là nan giải. Nhưng thực tế là không. Với một sự kiên định hiếm có, người được chọn ngẫu nhiên làm trưởng nhóm sẽ lấy cái bánh thứ tư lên và ăn. Không chỉ ăn, mà thậm chí còn ăn một cách khoái trá: Miệng nhai, mồm há, nước miếng ở hai bên mép. Tàn cuộc, cái còn lại là... vụn bánh ở trên áo của người trưởng nhóm.
Người trưởng nhóm chẳng làm điều gì khác người cả. Họ chẳng có cái khả năng đặc biệt gì. Họ được chọn ngẫu nhiên, 30 phút trước. Cái danh của họ chẳng gì ngoài sự may mắn. Dù thế những người đó vẫn có cảm giác cái bánh phải là phần của họ.
Nghiên cứu này giúp giải thích những khoản hoa hồng và khoản tiền trả cho CEO ở Wall Street, và tôi chắc rằng còn giả thích được cho nhiều hành vi khác của con người. Nhưng nó cũng có liên quan tới những bạn mới tốt nghiệp Đại học Princeton.
Nói chung các bạn đã được bố trí làm người dẫn đầu. Vị trí của các bạn có thể không hoàn toàn ngẫu nhiên. Nhưng các bạn phải cảm nhận được phần ngẫu nhiên trong đó: Các bạn là một số nhỏ may mắn.
May mắn ở gia đình có điều kiện, may mắn ở đất nước có điều kiện, may mắn là một nơi như Princeton tồn tại để nhận những người may mắn, được giới thiệu với những người may mắn khác, và tăng thêm khả năng càng trở nên may mắn.
May mắn các bạn sống ở một xã hội thịnh vượng nhất thế giới, ở một thời điểm mà không ai trông đợi các bạn phải hy sinh điều các bạn thích làm để làm bất cứ việc gì khác.
Tất cả các bạn đã được cho cái bánh thừa. Tất cả các bạn sẽ còn gặp nhiều cái bánh thừa nữa. Trong lúc các bạn sẽ dễ dàng cho rằng mình xứng đáng được hưởng cái bánh đó. Với tất cả những gì tôi biết, bạn có quyền đó.
Nhưng bạn sẽ hạnh phúc hơn, và thế giới sẽ tốt đẹp hơn, nếu ít nhất bạn làm ra vẻ là bạn không xứng đáng.
Đừng quên: Phục vụ tổ quốc. Phục vụ quốc tế.***
Cảm ơn các bạn. Và chúc may mắn.
----------------
Lưu ý:
* Ở Hoa Kỳ, người ta gọi khóa học theo năm tốt nghiệp chứ không gọi theo năm vào học.
** Prince là tên ngắn gọn của The Princetonian, nội san trường Princeton.
** "In the nation's service. In the service of all nations." Đây là khẩu hiệu chính thức của Đại học Princeton.
Nguồn: http://www.princeton.edu/main/news/archive/S33/87/54K53/index.xml
Truman State University, Missouri, Hoa Kỳ
Michael Lewis. Trương Huân dịch